Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là một trong những chỉ số kinh tế vĩ mô quan trọng và được sử dụng rộng rãi nhất để đánh giá sức khỏe và quy mô của một nền kinh tế. Vậy, GDP là gì và nó nói lên điều gì về một quốc gia? Bài viết dưới đây của HVS Tài Chính Số sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về GDP, từ khái niệm, các loại GDP, phương pháp tính toán cụ thể và ứng dụng trong đầu tư tại thị trường Việt Nam.

GDP là gì?

GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là Tổng sản phẩm quốc nội (hoặc Tổng sản phẩm nội địa). Chỉ số GDP đo lường tổng giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một quý hoặc một năm).

Phân loại các chỉ số GDP phổ biến

Để phục vụ cho các mục đích phân tích khác nhau, GDP thường được chia làm 3 loại chính:

  • GDP Danh nghĩa: GDP danh nghĩa là giá trị thị trường của toàn bộ sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tính theo mức giá hiện hành tại thời điểm sản xuất. GDP danh nghĩa đã bao gồm cả biến động giá do lạm phát. Khi lạm phát tăng cao, chỉ số GDP danh nghĩa sẽ tăng lên dù sản lượng thực tế của nền kinh tế không có sự thay đổi.
  • GDP Thực tế: GDP thực tế là chỉ số GDP đã được điều chỉnh theo lạm phát bằng cách sử dụng mức giá của một năm gốc cố định. Bằng cách loại bỏ ảnh hưởng của biến động giá cả, GDP thực tế giúp các nhà kinh tế đo lường chính xác sự thay đổi về tổng sản lượng thực tế qua các năm. Trong môi trường lạm phát dương, GDP thực tế luôn thấp hơn GDP danh nghĩa.
  • GDP bình quân đầu người: GDP bình quân đầu người biểu thị giá trị sản lượng kinh tế quy đổi trên mỗi người dân trong một quốc gia. GDP bình quân đầu người thường được sử dụng như một thước đo tương đối về mức sống, năng suất lao động và độ thịnh vượng của một quốc gia. Tuy nhiên, một quốc gia có GDP lớn chưa chắc có mức sống đồng đều cho toàn dân do yếu tố phân hóa giàu nghèo.

3 phương pháp tính GDP

Phương pháp sản xuất

Phương pháp sản xuất đo lường tổng giá trị tăng thêm (Value Added - VA) được tạo ra trong mọi ngành kinh tế, cộng với các loại thuế sản phẩm trừ đi trợ cấp sản phẩm.

GDP = Tổng giá trị tăng thêm (VA) + Thuế sản phẩm (trừ trợ cấp sản phẩm)

Trong đó:

  • Giá trị tăng thêm (VA) = Giá trị sản xuất (GO) - Chi phí trung gian (IC). Chi phí trung gian bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh như nguyên vật liệu, dịch vụ mua ngoài...

Phương pháp chi tiêu

Phương pháp tính GDP theo chi tiêu là phương pháp thông dụng nhất, tính toán GDP dựa trên tổng số tiền mà các thực thể trong nền kinh tế chi trả để mua sắm các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng.

GDP = C + I + G + NX

Trong đó:

  • C (Consumption): Tổng giá trị tiêu dùng cho sản phẩm và dịch vụ của người dân trong lãnh thổ quốc gia. 

  • G (Government Expenses): Chi tiêu chính phủ, phục vụ mua sắm thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng, chi trả lương thưởng cho công nhân viên chức nhà nước

  • I (Investment): Dòng tiền đâu tư của các cá nhân, doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh Bao gồm cả dòng vốn FDI, nguồn tiền từ nước ngoài

  • NX (Net Export/Import): Chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ 

Phương pháp thu nhập

Phương pháp này tính GDP bằng cách cộng toàn bộ các khoản thu nhập được tạo ra từ hoạt động sản xuất của các yếu tố kinh tế.

GDP = W + R + I + Pr + Ti + De

Trong đó: 

  • W (Wages): Tiền lương

  • R (Rents): Tiền thuê nhà

  • I (Interest): Tiền lãi

  • Pr (Profit): Lợi nhuận 

  • Ti (Tax): Các khoản thuế áp vào hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, và các khoản trợ cấp từ chính phủ

  • De (Depreciation): Khấu hao TSCĐ

Các yếu tố ảnh hưởng đến GDP

Dân số và lực lượng lao động

Giữa dân số và chỉ số GDP là một mối quan hệ có tịnh mật thiết và không thể tách rời. Dân số và lực lượng lao động chính là nguồn lực để sản xuất và cung cấp dịch vụ, cũng như chính là đối tượng tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ đó. Khi dân số có sự phát triển tích cực, cũng như những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức mua của người dân như thu nhập, tiền lương, chỉ số GDP nhờ vậy sẽ có xu hướng tăng trưởng tích cực theo. 

Chính phủ, chi tiêu, quy định và chính sách kinh tế

Các hoạt động từ Chính phủ và nhà nước như quyết định các chính sách kinh tế, các quy định về lãi suất, thuế, hay các quyết định chi tiêu cho nhà nước đều đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc kiểm soát tăng trưởng GDP. Ngoài các hành động ảnh hưởng trực tiếp đến GDP như những hoạt động đầu tư vào cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, hoặc chi trả lương thưởng cho CBCNV nhà nước, những hoạt động đưa ra nghị định, chính sách sẽ là những yếu tố định hướng nền kinh tế, góp phần giúp các doanh nghiệp đưa ra quyết định trong hoạt động kinh doanh. 

Trong trường hợp chỉ số GDP tăng quá nhanh, đồng nghĩa với việc lạm phát ở mức độ quá cao, chính phủ sẽ là nhân tố đưa ra những quyết định kịp thời như tăng lãi suất vay, giảm chi tiêu để ổn định lạm phát về mức kiểm soát, hạ nhiệt thị trường, tạo mức nền cho nền kinh tế phát triển ổn định trong lâu dài. Ngoài ra, chính phủ cũng đóng vài trò chủ chốt trong việc bình ổn cán cân xuất nhập khẩu, một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến GDP. 

Doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh

Các doanh nghiệp kinh doanh là yếu tố chính, nắm phần chủ yếu góp phần cấu thành chỉ số GDP. Nền kinh tế của một quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn, nắm thị phần chủ yếu thuộc các ngành nghề. Khi nền kinh tế ổn định, các doanh nghiệp có mức tăng trưởng tốt, doanh thu và lợi nhuận đều có xu hướng tăng theo thời gian, từ đó nâng cao mức sống cho người lao động, tăng sức mua trên thị trường. Ngoài ra, việc doanh nghiệp có xu hướng tăng trưởng đều trong thời gian dài cũng sẽ giúp họ quyết định đến việc mở rộng đầu tư, tăng thêm nguồn vốn vào kinh doanh, tạo ra các đặc điểm thu hút các doanh nghiệp và nguồn vốn từ nước ngoài (FDI,…).  

Các hạn chế khi sử dụng chỉ số GDP

Thời gian cập nhật thường đi chậm hơn so với thị trường

Chỉ số GDP thường được công bố theo quý hoặc năm, khi chỉ số này phản ánh hiệu suất trong quá khư của một nền kinh tế. Đến thời điểm công bố, thị trường kinh tế đã có sự thay đổi nhất định, nên sẽ rất khó cho NĐT cho việc xác định điểm tham gia hoặc thoát khỏi thị trường. 

GDP không phản ánh chính xác sự phát triển của một quốc gia

Trên thực tế, chỉ số GDP không thể đo lường chính xác sự phát triển của một quốc gia, chỉ phản ánh tương đối 1 phần cuộc sống của người dân. Ngoài ra, con số này chỉ xét đến hàng hóa - dịch vụ cuối cùng, mà bỏ qua các hoạt động giao dịch trung gian. Chỉ số GDP đã bao gồm tất cả giá trị thị trường của hàng hóa, dịch vụ, nhưng lại không bao gồm định lượng giá trị kinh tế không chính thức.

Số liệu GDP điều chỉnh tạo ra nhiều bối rối cho NĐT

Năm 2019, Tổng cục Thống kê Việt Nam đã thực hiện tính toán, đánh giá lại quy mô GDP do cơ quan thống kê Liên hợp quốc khuyến nghị. Việc đánh giá này tuy không có sự thay đổi về phương pháp tính, nhưng sẽ gây ra tính không nhất quán theo thời gian. Ngoài ra, việc tính toán lại GDP cũng sẽ làm tăng độ thiếu tin cậy của dữ liệu kinh tế quốc gia, gây ra nhiều khó khăn, phức tạp cho NĐT trong việc dự đoán xác định chu kỳ và đánh giá kinh tế dài hạn.   

Lỗ hổng danh nghiệp nước ngoài trong chỉ số GDP

Việc sử dụng riêng GDP để đánh giá mức độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia có thể dẫn tới nhiều lỗ hổng với những quốc gia có nhiều doanh nghiệp nước ngoài chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu nền kinh tế như Việt Nam. Chỉ số GDP được tính bằng tổng giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ nội trong biên giới một quốc gia, nhưng lại bao gồm cả những mặt hàng được sản xuất bởi những doanh nghiệp nước ngoài, và nguồn doanh thu đó sẽ được chuyển về quốc gia gốc của doanh nghiệp. 

Phân biệt GDP với GNP và GNI

Bên cạnh GDP, các nhà kinh tế học thường sử dụng thêm hai chỉ số khác là GNP (Tổng sản phẩm quốc gia) và GNI (Tổng thu nhập quốc gia) để đánh giá toàn diện năng lực kinh tế của một đất nước.

 GDPGNPGNI
GiốngCả ba loại chỉ số đều được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế và sức khỏe tổng thể của một nền kinh tế, là số đo tổng giá tiền mặt của hàng hóa và dịch vụ trong khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm). 
KhácĐo lường tổng giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong biên giới của một quốc giaĐo lường tổng giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ mà cư dân của một quốc gia sản xuất, cả trong và ngoài nướcĐo lường tổng thu nhập mà cư dân và doanh nghiệp của một quốc gia kiếm được, bao gồm bất kỳ khoản thu nhập nào kiếm được ở nước ngoài, trừ đi thu nhập mà người nước ngoài kiếm được trong nước.

Mặc dù là thước đo phổ biến, GDP vẫn tồn tại những hạn chế nhất định mà nhà đầu tư cần lưu ý:

  • Độ trễ về mặt thời gian: GDP được công bố theo định kỳ (quý hoặc năm) và phản ánh dữ liệu trong quá khứ. Đến thời điểm công bố, thị trường có thể đã dịch chuyển sang một xu hướng mới, gây khó khăn cho việc tìm kiếm điểm tham gia hay thoát vị thế đầu tư ngắn hạn.
  • Không phản ánh toàn diện nền kinh tế: GDP chỉ ghi nhận các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được giao dịch chính thức trên thị trường, bỏ qua các hoạt động tự cung tự cấp, kinh tế ngầm, và không đo lường trực tiếp được chất lượng cuộc sống thực tế của người dân.
  • Sự không nhất quán từ việc điều chỉnh số liệu: Việc cơ quan thống kê tiến hành điều chỉnh định kỳ hoặc thay đổi phương pháp tính toán/năm gốc có thể gây ra hiện tượng không nhất quán dữ liệu lịch sử, tạo khó khăn cho các nhà phân tích trong việc đánh giá chuỗi số liệu dài hạn.
  • Ảnh hưởng của khối FDI đến độ chính xác: Tại các quốc gia đang phát triển có tỷ trọng FDI lớn như Việt Nam, GDP ghi nhận toàn bộ giá trị sản xuất của các nhà máy nước ngoài đặt trong nước. Tuy nhiên, phần lớn lợi nhuận thực tế sau đó sẽ được chuyển về quốc gia gốc của họ, khiến GDP có thể cao hơn năng lực thu nhập thực tế của người dân bản địa.

Biến động GDP theo chu kỳ kinh tế tại thị trường Việt Nam

Chu kỳ kinh tế (Business/Economic Cycle) là những biến động tăng trưởng hay suy thoái của thị trường mang tính chất chu kỳ, thể hiện ở các chuỗi sự kiện có những đặc điểm giống nhau, được lặp lại theo thời gian. Chu kỳ kinh tế sẽ được đo lường bằng sự biến động của GDP thực tế, tạo nên sự luân phiên của các sự kiện: Suy thoái, đáy chu kỳ, phục hồi, đỉnh chu kỳ.

  • Giai đoạn Suy thoái (Recession): Chỉ số GDP trong giai đoạn này sẽ co lại lợi nhuận của các doanh nghiệp và mức chi tiêu của người dân bắt đầu có dấu hiệu giảm. Nhu cầu giảm khiến việc sản xuất cũng sẽ chậm lại theo, tín dụng giảm khi lãi suất tăng trở lại để hạ nhiệt thị trường, kéo theo chỉ số GDP.
  • Giai đoạn Đáy chu kỳ (Trough): Trong giai đoạn suy thoái, các hoạt động kinh tế đều bị đình trệ, thất nghiệp gia tăng cũng như lợi nhuận các doanh nghiệp giảm mạnh. Lượng hàng hoá sản xuất cũng như sức mua và tiêu dùng giảm sâu dẫn tới GDP lao dốc giảm mạnh.
  • Giai đoạn Phục hồi/Tăng trưởng (Recovery): Khi thị trường hàng hoa có sự thúc đẩy tăng trưởng, nhu cầu từ thị trường cũng có sự phục hồi giúp cho GDP tăng nhẹ trở lại. Tuy nhiên, giai đoạn này GDP sẽ có sự tăng trưởng khá chậm vì nhu cầu cung cầu mới có sự bứt phá nhẹ.
  • Giai đoạn Đỉnh chu kỳ (Peak): Đến giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng của thị trường được đẩy lên mức tối đa. Các doanh nghiệp sản xuất cần đáp ứng nhu cầu từ thị trường, nên việc tăng chi tiêu và đầu tư, tăng chi phí sản xuất là cần thiết. Từ đó, sự thoải mái trong chi tiêu người dân cùng những yếu tố trên sẽ giúp đẩy GDP tăng mạnh

Trong lịch sử kinh tế Việt Nam, chu kỳ tăng trưởng thường có xu hướng vận động xoay vòng khoảng 10 năm với các mốc biến động quan trọng ở cuối mỗi thập niên:

Giai đoạn 1990 – 2000 

Sau thời kỳ Đổi Mới, Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ về cả tốc độ lẫn biên độ nhờ các chính sách mở cửa và chấp nhận thành phần kinh tế tư nhân. Việt Nam đạt đỉnh tăng trưởng GDP trong hai năm liên tiếp 1995 (9.5%) và 1996 (9.3%).

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 bắt đầu từ Thái Lan đã bộc lộ những điểm hạn chế về sức đề kháng của nền kinh tế nội địa. Tốc độ tăng trưởng GDP giảm dần và chạm đáy suy giảm vào năm 1999 ở mức 4.8%.

Tăng trưởng GDP giai đoạn 1990 – 2000

Giai đoạn 2000 – 2010

Đầu những năm 2000, nhờ tận dụng tốt các cơ hội khi chuẩn bị và chính thức gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam nhanh chóng phục hồi. Giai đoạn 2001 - 2007 chứng kiến GDP tăng trưởng ổn định ở mức trung bình khoảng 6.9%/năm.

Đến năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra đã hạn chế dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI, ODA) và làm sụt giảm xuất khẩu nghiêm trọng, kéo tăng trưởng GDP năm 2008 sụt giảm còn 5.6%. Sau khi chạm đáy vào năm 2009, nền kinh tế đã từng bước ổn định trở lại nhờ các chính sách tài khóa linh hoạt.

Tăng trưởng GDP Giai đoạn 2000 – 2010

Giai đoạn 2010 – 2020

Nhằm ứng phó với hệ lụy sau khủng hoảng, Chính phủ đã triển khai nhiều gói kích thích kinh tế tổng thể, hỗ trợ lãi suất và miễn giảm thuế cho doanh nghiệp. Mặc dù tốc độ tăng trưởng giai đoạn đầu (2008 - 2012) chịu nhiều áp lực dưới 7%, Việt Nam vẫn được đánh giá là hồi phục nhanh so với bối cảnh chung toàn cầu.

Giai đoạn 2014 - 2019 ghi nhận mức tăng trưởng vĩ mô đều đặn và cân bằng với biên độ trung bình khoảng 5% - 7% mỗi năm trước khi đối mặt với thách thức lớn tiếp theo.

Tăng trưởng GDP giai đoạn 2010 – 2020

Giai đoạn 2020 – nay

Đại dịch Covid-19 gây ra những đứt gãy nghiêm trọng chuỗi cung ứng toàn cầu. GDP Việt Nam trong năm 2020 và 2021 ghi nhận mức thấp kỷ lục từ năm 1990, lần lượt là 2.9% và 2.6%.

Dù có sự hồi phục mạnh mẽ trong giai đoạn 2022 - 2023 khi mở cửa kinh tế, quá trình khôi phục sản xuất của doanh nghiệp hiện nay vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức do môi trường lãi suất cao và áp lực lạm phát từ các thị trường xuất khẩu lớn.

Tăng trưởng GDP giai đoạn 2020 – nay

Ứng dụng của GDP vào hoạt động đầu tư

Sử dụng chỉ số GDP để dự báo và xác định chu kỳ nền kinh tế

NĐT thường sử dụng chỉ số GDP và tốc độ tăng trưởng để có thể đánh giá nền kinh doanh của mỗi quốc gia. GDP tăng cho thấy doanh nghiệp đang mở rộng, thường tương quan với thu nhập doanh nghiệp và giá cổ phiếu tăng. Các nhà đầu tư sử dụng GDP để dự đoán xu hướng lợi nhuận của công ty và hiệu suất thị trường chứng khoán. Từ đó, NĐT sẽ đưa ra quyết định, lên kế hoạch đầu tư vào thời điểm chính xác, cũng như phân bổ đầu tư vào nền kinh tế phát triển thích hợp. Để ví dụ, khi nền kinh tế được xác định bước vào chu kỳ mở rộng, thị trường chứng khoán theo đó cũng sẽ có được những ảnh hưởng tích cực, NĐT có thể yên tâm đầu tư nắm giữ cũng như mở rộng danh mục đầu tư để gia tăng lợi nhuận. 

Sử dụng chỉ số GDP để dự báo và xác định chu kỳ nền kinh tế

Sử dụng chỉ số GDP để kiểm soát rủi ro

Một ứng dụng khác khi NĐT sử dụng chỉ số GDP: Kiểm soát rủi ro khi xuất hiện dấu hiệu suy thoái, GDP giảm liên tục trong 2 quý liên tiếp cánh báo các NĐT khi chuyển đổi giai đoạn trong chu kỳ kinh tế. Ngoài ra, Chỉ số GDP ảnh hưởng tới chính sách tiền tệ của ngân hàng TW. Khi GDP được đẩy lên quá cao, đồng nghĩa với việc tăng trưởng lạm phát, NHNN đẩy lãi suất lên cao để kìm hãm lại sức nóng của thị trường. Khi lãi suất được đẩy lên cao, dòng tiền đổ vào nền kinh tế sẽ co lại, tương đương với những dấu hiệu giai đoạn suy thoái, khối lượng và thanh khoản trên thị trường đầu tư cũng giảm dần, khi đó NĐT nên thực hiện tái cơ cấu danh mục, chuyển hướng đầu tư sang những sản phẩm lâu dài như ngoại tệ hay vàng. 

Kết luận

Chỉ số GDP giúp nhà đầu tư nhận diện sức khỏe nền kinh tế và định vị chu kỳ thị trường. Tuy nhiên, việc chuyển hóa các số liệu lý thuyết này thành các quyết định đầu tư thực chiến sinh lời đòi hỏi sự nhạy bén, kinh nghiệm thực tế và một tư duy phân tích nhạy bén.

Nếu bạn đang tìm kiếm một lộ trình bài bản để làm chủ kiến thức kinh tế vĩ mô và bắt đầu sự nghiệp trong ngành tài chính - chứng khoán, hãy tham gia ngay chương trình HVS Thực Tập Số.

Tại đây, bạn sẽ được:

  • Thực hành phân tích số liệu vĩ mô trên dữ liệu thị trường thực tế.
  • Nhận sự dẫn dắt trực tiếp từ đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm thực chiến.
  • Trang bị các kỹ năng chuyên môn cần thiết để tự tin ứng tuyển vào các định chế tài chính lớn.

Hãy khởi đầu hành trình trở thành nhà đầu tư và chuyên viên chứng khoán chuyên nghiệp cùng HVS Thực Tập Số ngay hôm nay!

 

HVS Tài chính số là nền tảng toàn diện đồng hành cùng nhà đầu tư trong suốt hành trình chinh phục thị trường chứng khoán - từ trang bị kiến thức, cập nhật thông tin thị trường đến hỗ trợ ra quyết định và quản lý danh mục. Tích hợp trọn bộ công cụ trên một hệ sinh thái duy nhất, HVS giúp tối ưu thời gian, mang lại trải nghiệm đầu tư liền mạch và hiệu quả cho cả người mới bắt đầu lẫn nhà đầu tư giàu kinh nghiệm.

Thông tin liên hệ:

  • Website: https://taichinhso.hvsvn.com/
  • Hội sở: Tầng 4, TTTM Dịch vụ Cống Vị, Số 2 Liễu Giai, Phường Ngọc Hà, TP. Hà Nội
  • Điện thoại: (+84-24) 3886 9999
  • Email: info@hvsvn.com

Bài viết liên quan